Tuesday, September 2, 2014

Tìm hiểu về Google THDC_20141_D3T_VuDangTuan_20134348 Baitaptuan1

          
Loại hình: Cổ phần
Ngành nghề: Internet, Phần mềm máy tính, Thiết bị viễn thông
Thành lập: Menlo Park, California, Hoa Kì
Năm thành lâp: Ngày 4 tháng 9 năm 1998
Trụ sở chính: Mountain View, California, Hoa Kì
Thành viên chủ chốt: Larry Page (Tổng Giám Đốc), Eric Emerson Schmidt (Chủ tịch điều hành), Sergey Brin (Giám Đốc điều hành)
Doanh thu: 37.905 tỷ USD (2011)
Lãi thực: 9.373 tỷ USD (2011)
Tổng số tài sản: 72.574 tỷ  USD (2011)
Tài sản cổ phần: 58.145 tỷ USD (2011)
Số nhân viên: 54.604 (2012)
Khẩu hiệu: Đừng làm quỷ dữ (Don’t be evil)
Giá cổ phiếu: 582,36 USD (29/8/2014)
Google là một công ty Internet có trụ sở tại Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1998. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet. Trụ sở của Google tên là "Googleplex" tại Mountain View, California. giám đốc không người nào khác đó là Larry Page, 1 trong 2 người sáng lập ra công ty. Tên "Google" là một lối chơi chữ của từ googol, bằng 10100. Google chọn tên này để thể hiện sứ mệnh của công ty để sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Googleplex, tên của trụ sở Google, có nghĩa là 10googol.
Đầu năm 2012, Google đứng đầu trong danh sách 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất ở Mỹ do tạp chí Fortune bình chọn với tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong năm 2011 là 33%

Lịch sử hình thành
Năm 1996, Google là một công trình nghiên cứu của Larry Page  Sergey Brin, hai nghiên cứu sinh tại trường Đại học Stanford. Họ có giả thuyết cho rằng một công cụ tìm kiếm dựa vào phân tích các liên hệ giữa các website sẽ đem lại kết quả tốt hơn cách đang được hiện hành lúc bấy giờ (1996). Đầu tiên nó được gọi là BackRub (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang.
Page và Brin tin rằng những trang có nhiều liên kết đến nhất từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ (http://www.google.com). Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công tyGoogle, Inc. ngày 7 tháng 9 năm 1998 tại một ga ra của nhà Esther Wojcicki (cũng là nhân viên thứ 16 của Google, Phó Chủ tịch cấp cao, phụ trách bộ phận quảng cáo) tại Menlo Park, California. Trong tháng 2 năm 1999, trụ sở dọn đến Palo Alto, là thành phố có nhiều trụ sở công ty công nghệ khác. Sau khi đổi chỗ hai lần nữa vì công ty quá lớn, trụ sở nay được đặt tại Mountain View, California tại địa chỉ 1600 Amphitheater Parkway vào năm 2003.
Công cụ tìm kiếm Google được nhiều người ủng hộ và sử dụng vì nó có một cách trình bày gọn và đơn giản cũng như đem lại kết quả thích hợp và nâng cao. Trong năm 2000, Google đã bắt đầu bán quảng cáo bằng từ khóa để đem lại kết quả thích hợp hơn cho người dùng. Những quảng cáo này chỉ dùng văn chứ không dùng hình để giữ chất đơn giản của trang và tránh sự lộn xộn và đồng thời để trang được hiển thị nhanh hơn.
Google nhận được bằng sáng chế cho kỹ thuật sắp xếp trang web PageRank ngày 4 tháng 9 năm 2001. Bằng đưa quyền cho Đại học Stanford và liệt kê Larry Page là người sáng chế.
Trong tháng 2 năm 2003 Google mua được Pyra Labs, công ty chủ của Blogger, một trong những website xuất bản weblog lớn nhất.
Đầu năm 2004, khi Google ở tột đỉnh, Google đã xử lý trên 80% số lượng tìm kiếm trên Internet qua website của họ và các website của khách hàng như Yahoo!, AOL, và CNN. Sau khi Yahoo! bỏ Google để dùng kỹ thuật họ tự sáng chế vào tháng 2 năm 2004, số này đã bị tuột xuống.
Phương châm của Google là "Không làm ác" (Don't be evil). Biểu trưng của họ có khi được sửa đổi một cách dí dỏm vào dịp những ngày đặc biệt như ngày lễ hay sinh nhật của một nhân vật quan trọng. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt và một số ngôn ngữ dí dỏm như tiếng Klingon  tiếng Leet. Vào ngày Cá tháng tư (tiếng Pháp: poisson d'avril, tiếng Anh: April Fool's Day) Google thường tung ra nhiều tin hài hước về công ty.
Phát hành cổ phiếu:
Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan Stanley  Goldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Giá thị trường của Google đến nay là trên 100 tỷ đô la.

Sự phát triển
Khi thị trường ban đầu của công ty là trên thị trường web, Google đã bắt đầu thử nghiệm ở một số thị trường khác, ví dụ như Phát thanh hoặc Xuất bản. Ngày 17-1-2006, Google công bố rằng công ty đã mua lại công ty quảng cáo phát thanh dMarc, công ty đã sử dụng một hệ thống tự động, cho phép các công ty quảng cáo trên radio. Điều này sẽ giúp Google kết hợp 2 kênh quảng cáo truyền thông là Internet và Radio, với khả năng của Google, nhắm thẳng vào tâm lý khách hàng. Google cũng bắt đầu thử nghiệm bán quảng cáo trên các kênh quảng cáo offline của công ty, như trên báo và tạp chí, với các quảng cáo được lựa chon trên Chicago-Sun Times. Họ đã lấp được một chỗ trống không bán được trên tờ báo mà trước đấy thường được dùng vào việc quảng cáo nhà.
Google được đưa vào danh sách 500 S&P index ngày 30 tháng 3 năm 2006, chiếm vị trí của Burlington Resources, một nhà sản xuất dầu chính ở Houston.

(Trụ sở Google)

Các thương vụ mua bán và cộng tác
Các thương vụ mua bán:
Từ năm 2001, Google đã mua được nhiều công ty nhỏ mới thành lập, thường là công ty có nhiều sản phẩm và đội ngũ nhân viên tốt. Một trong những công ty mà Google mua lại sớm nhất là Pyra Labs. Họ chính là những người sáng tạo ra Blogger, một nền tảng của việc xuất bản weblog, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1999. Pyra Labs ban đầu được lập ra bởi Evan Williams, khi anh này rời Google vào năm 2004. Đầu năm 2006, Google mua lại Upstartle, một công ty chịu trách nhiệm xử lý từ ngữ trên mạng, Writely. Công nghệ của sản phẩm này rốt cuộc đã được Google sử dụng để tạo ra Google Docs & Spreadsheets.
Tháng 2 năm 2006, công ty phần mềm Adaptive Path bán Measure Map, một ứng dụng thống kê weblog cho Google.
Cuối năm 2006, Google mua lại trang web chia sẻ video trực tuyến YouTube với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phần. Không lâu sau, 31 tháng 10 năm 2006, Google công bố họ đã mua lại Jotspot, một nhà phát triển của công nghệ wiki cho các website cộng đồng.
Ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đạt được thỏa thuận mua lại DoubleClick. Google đã đồng ý mua lại công ty này với giá 3,2 tỷ USD.
Ngày 15 tháng 8 năm 2011, Google tuyên bố sẽ mua Motorola Mobility với giá 12,5 tỷ USD
Sự cộng tác:
Năm 2005, Google gia nhập hiệp hội với các công ty và tổ chức chính phủ khác để phát triển phần mềm và dịch vụ. Google công bố mối cộng tác với NASA Ames Reseach Center, xây dựng đến 1 triệu phòng chuyên trách và làm việc trong đề án nghiên cứu bao gồm Quản lý dữ liệu trên diện rộng, công nghệ nano, sắp xếp công việc sử dụng máy tính… Google cũng tham gia cộng tác với Sun Microsystem để chia sẻ và phân loại các công nghệ của nhau. Công ty cũng tham gia cộng tác với American Online của Time Warner để cải tiến dịch vụ video trực tuyến.
Năm 2007, Google và New Corp.’s Fox Interactive Media tham gia vào bản hợp đồng trị giá 900 triệu USD để phục vụ tìm kiếm vào quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng,Myspace.
Ngày 22 tháng 3 năm 2010, Google rời khỏi thị trường khổng lồ Trung Quốc (tuy nhiên, các dịch vụ bản đồ trực tuyến và âm nhạc vẫn tiếp tục hoạt động). Google đóng cửa website google.cn, và thay vào đó chuyển tới trang google.com.hk để tránh bị kiểm duyệt nội dung. Nguyên nhân chính được cho là vì bất đồng quan điểm với chính quyền Trung Quốc. Ngày 30 tháng 3 năm 2010, mọi cách tìm kiếm bằng google (không chỉ google.cn mà còn các ngôn ngữ khác như google.co.jp. Google.com.au,..), bao gồm cả Google Mobile, đều bị chặn ở Trung Quốc. Hai dịch vụ như Google Mail và Google Maps không bị ảnh hưởng. Lệnh cấm được dỡ bỏ vào ngày hôm sau http://www.google.com/prc/report.html

Sản phẩm
Google hiện nay đã phát triển nhiều dịch vụ và công cụ cho cộng đồng chung cũng như trong lĩnh vực kinh doanh, bao gồm các ứng dụng Web, mạng lưới Quảng cáo và giải pháp kinh doanh.
Quảng cáo:
Phần lớn thu nhập của Google đến từ các chương trình Quảng cáo trực tuyến. Google AdWords cho phép các đối tượng có nhu cầu Quảng cáo đăng Quảng cáo của mình trên kết quả tìm kiếm của Google và trên Google Content Network qua phương thức cost-per-click (trả tiền qua số lần click vào Quảng cáo) hoặc cost-per-view (trả tiền qua số lần xem Quảng cáo). Chủ các trang web Google AdSense cũng có thể hiển thị quảng cáo trên trang của họ và kiếm tiền mỗi lần banner quảng cáo được Click.
Ứng dụng:
Google nổi tiếng bởi dịch vụ Tìm kiếm của nó, nhân tố chính dẫn đến thành công của Google. Vào tháng 12 năm 2006, Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên mạng chiếm 50,8% thị phần, vượt xa so với Yahoo (23,6 %) và Window Live Search (8,4%). Google liên kết với hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và các toán tử. Google cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm Image Search (tìm kiếm ảnh),Google News, trang web so sánh giá cả Froogle, cộng đồng tương tác Google Groups, Google Maps và còn nhiều nữa.
Năm 2004, Google ra mắt dịch vụ email trên nền web, gọi là Gmail. Gmail hỗ trợ công nghệ lọc thư rác và khả năng sử dụng Công nghệ tìm kiếm của Google để tìm kiếm thư. Dịch vụ này tạo ra thu nhập bằng cách hiển thị quảng cáo từ dịch vụ AdWords mà phù hợp với nội dung của email hiển thị trên màn hình.
Đầu năm 2006, Google ra mắt dịch vụ Google Video, dịch vụ không chỉ cho phép người dùng tìm kiếm và xem miễn phí các video có sẵn mà còn cho người sử dụng hay các nhà phát hành khả năng phát hành nội dung mà họ muốn, kể cả các chương trình truyền hình trên CBS, NBA và các video ca nhạc. Nhưng đến tháng 8 năm 2007, Google đã đóng cửa trang web này trước sự cạnh tranh của đối thủ Youtube cũng thuộc sở hữu của công ty
Google cũng đã phát triển một số ứng dụng nhỏ gọn, bao gồm cả Google Earth, một chương trình tương tác sử dụng ảnh vệ tinh. Ngoài ra công ty còn phát triển nhiều gói phần mềm văn phòng trên ứng dụng web tên là Google Docs nhằm cạnh tranh thị phần với Microsoft Office.
Nhiều ứng dụng khác nữa có tại Google Labs, một bộ sưu tập những phần mềm chưa hoàn chỉnh. Chúng đang được thử nghiệm để có thể đưa ra sử dụng trong cộng đồng.
Google đã đẩy mạnh quảng bá sản phẩm của họ bằng nhiều cách khác nhau. Ở London, Google Space được cài đặt tại sân bay Healthrow, ra mắt nhiều sản phẩm mới, bao gồmGmail, Google Earth  Picasa. Ngoài ra, một trang web tương tự cũng được ra mắt cho sinh viên Mỹ dưới cái tên College Life, Powered by Google.
Vào ngày 2 tháng 9 năm 2008, Google đã thông báo sự xuất hiện của Google Chrome, một trình duyệt mã nguồn mở. Trình duyệt này được giới phân tích đánh giá sẽ là đối thủ cạnh tranh thị phần của Internet Explorer  Firefox.Cũng vào khoảng thời gian này Google Translate đã bổ sung thêm tiếng Việt trong dịch vụ dịch tự động của mình và tích hợp ngay trong công cụ tìm kiếm, giúp người sử dụng nhanh chóng hiểu được cơ bản nội dung trang web trình bày bằng tiếng nước ngoài.
Ngày 5 tháng 1 năm 2010, Google cho ra mắt điện thoại Nexus One, sản phẩm cộng tác với hãng điện thoại HTC. Nexus One chạy trên nền hệ điều hành Android 2.1 (cũng do hãng phát triển), được cho là đối thủ cạnh tranh ngang hàng với iPhone của Apple.
Sản phẩm phục vụ kinh doanh:
Năm 2007, Google giới thiệu Google Apps Premium Edition, một phần mềm phù hợp cho việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ email, tin nhắn, lịch…như một chương trình bảng tính. Sản phẩm này chủ yếu nhắm tới người sử dụng là doanh nhân, dùng để cạnh tranh trực tiếp với bộ phần mềm Microsoft Office, với giá chỉ 50USD một năm cho một người sử dụng, so với giá 500USD cho một người sử dụng của Microsoft Office. Google có một số lượng lớn người sử dụng Google App với 38.000 người ở Đại học Lakehead tại Thunder Bay, Ontario, Canada.
Cũng vào năm 2007, Google đã mua lại công ty Postini và sẽ tiếp tục phát triển công nghệ mà họ mua được từ công ty này và đặt tên là Google Security Services.

Các dịch vụ chính
·         Blogger: Dịch vụ blog miễn phí của Google
·         Froogle: Tìm hàng hóa để mua (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Products)
·         Gmail: Dịch vụ thư điện tử
·         Google Alerts: Nhận tin tức và kết quả tìm kiếm qua thư điện tử
·         Google Answers: Dịch vụ trả lời có lệ phí (đã ngừng hoạt động)
·         Google Apps: Kho ứng dụng dành cho doanh nghiệp
·         Google Buzz: Mạng xã hội (đã ngừng hoạt động)
·         Google Calendar: Ứng dụng lịch trực tuyến
·         Google Catalogs: Ứng dụng đưa các catalog (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Book Search)
·         Google Code: Phát triển mã nguồn và lưu trữ các dự án mã nguồn mở
·         Google Docs: Công cụ soạn thảo văn bản, bảng tính và trình chiếu trực tuyến
·         Google Drive: Lưu trữ tập tin bằng điện toán đám mây (15Gb miễn phí)
·         Google Directory: Thư mục lấy từ Open Directory Project
·         Google Groups: Diễn đàn
·         Google Images Search: Tìm kiếm hình ảnh
·         Google Labs: Thử nghiệm các ứng dụng và công cụ mới
·         Google Language Tools Đã chuyển sang Google Translate
·         Google Local: Bản đồ địa phương (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Maps)
·         Google Maps: Bản đồ, chỉ hướng, hình từ vệ tinh toàn thế giới. Dịch vụ này của Google cho phép tạo bản đồ cá nhân và yêu cầu có một tài khoản Google.
·         Google Mobile: Sử dụng Google trên điện thoại di động
·         Google News: Tin tức
·         Google Pages Creator: Upload, lưu trữ file, tạo trang web trực tuyến miễn phí (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Sites)
·         Google Print: Phiên bản sách in cũ, hiện đã chuyển sang Google Book Search
·         Google Reader: Trình đọc tin trực tuyến
·         Google Scholar: Tìm kiếm kho học liệu
·         Google SMS: Dịch vụ gởi tin nhắn miễn phí (đã ngừng hoạt động)
·         Google Sites: Ứng dụng làm trang web miễn phí
·         Google Translate: Công cụ dịch thuật trực tuyến hỗ trợ 65 ngôn ngữ khác nhau (tính đến 01/2013)
·         Google Video: Đăng tải video (đã ngừng cho phép tải video mới, chuyển sang dịch vụ YouTube)
·         Google Web Accelerator: truy cập trang web nhanh hơn
·         Google Web Albums: Quản lý lưu trữ hình ảnh, xuất bản hình ảnh trên web
·         Google+: Mạng xã hội
·         iGoogle: Trang chủ Google cá nhân tùy biến (đã ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 11 năm 2013)
·         Panoramio: Mạng xã hội chia sẻ ảnh
·         Webmaster Tools: Công cụ quản lý trang web trên máy chủ tìm kiếm của Google
·         YouTube: Đăng tải video và ứng dụng xã hội với video
Chương trình
·         Google Adwords: Chương trình quảng cáo dành cho các doanh nghiệp muốn quảng cáo trên Google và các trang đối tác
·         Google Adsense: Dịch vụ dành cho đối tác muốn đưa quảng cáo Google lên trang web của mình
Ứng dụng để bàn
·         Google Deskbar
·         Google Desktop Search
·         Google Earth: xem bản đồ 3D của google
·         Orkut
·         Picasa: Lưu trữ ảnh
·         Google GO: Ngôn ngữ lập trình
·         Google Toolbar: thanh công cụ trên Internet Explorer
·         Google Chrome: Trình duyệt web
·         Google Sidewiki: Ghi chú và nhận xét về các trang web mà người dùng xem
·         Google Drive Client: Lưu trữ online


3 sản phẩm thành công của Google
Google Apps: Có nhiều tính năng nổi trội hơn IOS và Window Phone

 Google Search, Gmail

Sứ khác nhau giữa Android và iOS - THDC_2014_D3T_lenamlong_20132366 Baitaptuan1

Chủ đề: 2 hệ điều hành Android và iOS khác nhau những gì?

Nhìn chung, dù là iOS hay Android, người dùng hiện nay đều có xu hướng lựa chọn theo cảm tính, hay nói cách khác là lựa chọn hệ điều hành mà mình cảm thấy quen thuộc và dễ sử dụng nhất. Dưới đây là đôi nét tổng quát về cả hai hệ điều hành iOS và Android, qua đó giúp người dùng có thể tìm ra được smartphone phù hợp nhất với bản thân.

I. Hệ điều hành iOS

iOS là hệ điều hành nổi tiếng nhất của Apple và đó là điều chắc hẳn ai cũng biết. iOS được sử dụng cho một loạt các sản phẩm khác nhau của Apple như máy nghe nhạc iPod, máy tính bảng iPad và di nhiên cả iPhone. iOS được đa số người dùng nhận xét là có màu sắc tươi sáng, giao diện thân thiện, dễ sử dụng, một hệ thống sạch đẹp và tương tác mượt mà. Tuy nhiên, iOS có một nhược điểm đó là khả năng tùy chỉnh rất kém. Ngoài việc đổi hình nền và sắp xếp lại các biểu tượng, người dùng gần như không thể tùy chỉnh bất cứ thứ gì trên iOS theo ý mình.
Ngoài nhược điểm này, iOS nhìn chung là hệ điều hành có độ tin cậy, dễ sử dụng và sở hữu nhiều ứng dụng chất lượng tốt. Dưới đây là ba lý do chính khiến người dùng lựa chọn hệ điều hành iOS:

1. iOS luôn luôn hoạt động hiệu quả

Có thể nói, Apple không chỉ nổi tiếng bởi iPhone, iPad và iPod, mà bản thân hệ điều hành iOS cũng đóng góp một phần không nhỏ tạo nên danh tiếng của quả táo cắn dở. Do đó, iOS được Apple vô cùng chăm chút và hoạt động hiệu quả với mức độ tin cậy cao hơn bất cứ hệ điều hành nào khác. Dĩ nhiên, iOS đôi khi cũng xảy ra một số lỗi, song chúng đều nhanh chóng được cập nhật và vá lỗi một cách nhanh chóng.
Không giống các ứng dụng trên Android, các ứng dụng của iOS chạy độc lập với hệ điều hành, điều đó có nghĩa nếu một ứng dụng gặp lỗi và bị hiện tượng "crash", điện thoại của bạn vẫn hoạt động bình thường - việc bạn cần làm chỉ là khởi động lại ứng dụng đó. Ngược lại, với Android, nếu một ứng dụng bị lỗi, toàn bộ điện thoại cũng bị sập theo, buộc bạn phải khởi động lại máy.

2. Ứng dụng của iOS chất lượng hơn và cập nhật nhanh hơn

Mặc dù hầu hết cả nhà phát triển đều xây dựng các ứng dụng cho cả hai phiên bản iOS và Android, song thường họ sẽ ưu tiên iOS trước, bởi phát triển ứng dụng cho iOS dễ hơn so với Android. Android là hệ điều hành có mã nguồn mở và có rất nhiều phiên bản khác nhau. Do đó, hầu hết các smartphone chạy Android hiện nay đều không được cài phiên bản mới nhất, điều đó khiến việc phát triển các ứng dụng trở nên phức tạp và khó khăn hơn.
iOS, ngược lại, đều vô cùng nhất quán trên tất cả các thiết bị của Apple, và do đó việc cập nhật phiên bản mới đều nhanh gọn và dễ dàng hơn so với Android. Nếu sở hữu một thiết bị cấp cao của Apple, bạn có thể an tâm máy của bạn bao giờ cũng cập nhật bản mới nhất của hệ điều hành.

3. iOS an toàn hơn

Có hai lý do để đi đến kết luận iOS có độ bảo mật và an toàn tốt hơn tất cả các hệ điều hành khác hiện nay, bao gồm cả Android. Thứ nhất và quan trọng nhất, các nhân viên của Apple đều tự tay kiểm tra và xác nhận từng ứng dụng được đưa lên iOS App Store trước khi chuyển chúng đến tay người dùng.

Thứ hai, Apple đưa ra những những hạn chế vô cùng nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn những ứng dụng có khả năng thâm nhập trực tiếp vào hệ điều hành, điều đó giúp ngăn chặn tất cả những virus hay phần mềm độc hại có thể nhiễm vào hệ điều hành. Apple cũng giúp người dùng có thể kiểm tra xem thiết bị của họ ở đâu trong trường hợp bị kẻ gian đánh cắp, đồng thời kẻ gian cũng không thể tắt hệ thống GPS tracker giúp định vị vị trí máy nếu không có mật khẩu của bạn.

II. Hệ điều hành Android

Android là hệ điều hành nổi tiếng thứ hai thế giới, do Google tạo ra với tư cách là một dự án mã nguồn mở và bất cứ ai cũng có thể thò tay can thiệp vào. Mặc dù không nổi tiếng bằng iOS, song Android lại là hệ điều hành di động được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Hầu hết các nhà sản xuất smartphone trên thế giới, ngoại trừ Apple, đều sở hữu ít nhất một sản phẩm chạy Android, với mỗi nền tảng khác nhau được họ phát triển dựa trên Android.
Điểm mạnh lớn nhất của Android đó là khả năng tùy chỉnh rất cao. Cùng là điện thoại chạy Android, song có thể thấy mỗi hãng sản xuất smartphone lại cung cấp tinh chỉnh giao diện riêng cho điện thoại của mình, qua đó tạo nên sự khác biệt và độc đáo cho người dùng.

Android có thể là hệ điều hành lý tưởng với bạn nếu bạn là người yêu thích trải nghiệm đối với điện thoại di động và muốn thử nghiệm những công nghệ mới nhất. Dưới đây là 3 lý do khiến bạn nên lựa chọn Android.

1. Khả năng tùy chỉnh của Android là vô hạn

Nếu bạn muốn chiếc smartphone yêu quý của mình mang đậm phong cách cá nhân của bản thân - với điều kiện bạn phải có chút kiến thức kha khá về công nghệ - Android chính là lựa chọn không thể phù hợp hơn.
Có thể nói, Android có khả năng biến ảo linh hoạt hơn nhiều so với iOS. Tất cả các phần giao diện của Android, từ những biểu tượng cho đến phông chữ, tất cả đều có thể tùy chỉnh theo ý người dùng. Và nếu như bạn muốn kiểm soát điện thoại nhiều hơn, bạn có thể truy cập vào hệ điều hành Android và tùy chỉnh hoặc cài đặt bất cứ điều gì bạn muốn.

2. Android sở hữu nhiều tính năng và công nghệ mới thú vị

Bên cạnh những tính năng phần cứng độc đáo mà bạn sẽ không thể tìm thấy trên iPhone, như IR Blasters hay NFC chip, các điện thoại Android còn có những tính năng bổ sung độc đáo, cho phép bạn sử dụng chiếc điện thoại của mình một cách vui vẻ và khác biệt nhất, tùy thuộc vào việc bạn mua điện thoại đó của hãng nào. Chẳng hạn, điện thoại mới của LG cho phép bạn xoay màn hình bằng cách gõ nhẹ hai lần vào màn hình. Các thiết bị mới của Samsung thì có tính năng kiểm tra mắt và nhận dạng khuôn mặt.

Ngoài ra, khả năng tích hợp các công nghệ mới của Android thường rất nhanh, trong khi iOS của Apple thường khá chậm chạp.

3. Có nhiều mức giá mà bạn tha hồ chọn lựa
Có thể nói, sự ra đời của Android chính là tác nhân giúp giảm giá thành smartphone, qua đó tạo nên một thị trường điện thoại thông minh đa dạng và phong phú hơn bao giờ hết. Các điện thoại Android có mặt ở mọi mức giá và bạn có thể tha hồ lựa chọn. Hơn thế nữa, các thiết bị chạy Android tuy cùng một hệ điều hành, song lại được tùy chỉnh rất khác biệt nhau, qua đó giúp người dùng có nhiều trải nghiệm mới lạ.

Ngoài lề: Hiện tại em đang sử dụng HĐH Windows phone 8.1 cho chiếc lumia 520. Nhận xét riêng đối với các loại điện thoại cùng giá trên thị trường sử dụng Android thì có một số điểm WP ưu việt hơn như:
1. Chụp ảnh: Ảnh chụp khá nét, cách chụp lấy nét đơn giản, có đầy đủ các tính năng của các điện thoại chạy Android khác và có cảm giác ở WP dùng dễ hơn và mượt hơn.
2. Lưu trữ đám mây: WP có đồng bộ tài khoản microsoft trên ONE DRIVE. Các tài liệu, ảnh, video có thể tự động tải lên. Dễ dàng truy cập từ một máy tính hoặc một điện thoại khác
3. Tính bảo mật: So với Android thì tính bảo mật của WP có vẻ hơn, vì WP không có nhiều ứng dụng rác như của Android, các ứng dụng đều được kiểm tra chặt chẽ trước khi được đưa lên store.
4. Cuối cùng: Nó khá dễ sử dụng, chạy các ứng dụng khá mượt, ít khi xảy ra lỗi.

Trên kia là một số nhận xét của em, mong thầy có thể chỉnh sửa và đóng góp thêm.

Nhận xét: Em làm bài so sánh như vậy là khá tốt +++ :)

Tìm hiểu về Google - THDC_20141_D3T_BuiDucHai_20131209 baitaptuan1

Google là một công ty Internet có trụ sở tại Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1998. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet. Trụ sở của Google tên là "Googleplex" tại Mountain View, California. giám đốc không người nào khác đó là Larry Page, 1 trong 2 người sáng lập ra công ty. Tên "Google" là một lối chơi chữ của từ googol, bằng 10100. Google chọn tên này để thể hiện sứ mệnh của công ty để sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Googleplex, tên của trụ sở Google, có nghĩa là 10googol.
Đầu năm 2012, Google đứng đầu trong danh sách 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất ở Mỹ do tạp chí Fortune bình chọn với tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong năm 2011 là 33%.
Đầu tiên (1996) Google là một công trình nghiên cứu của Larry PageSergey Brin, hai nghiên cứu sinh tại trường Đại học Stanford. Họ có giả thuyết cho rằng một công cụ tìm kiếm dựa vào phân tích các liên hệ giữa các website sẽ đem lại kết quả tốt hơn cách đang được hiện hành lúc bấy giờ (1996). Đầu tiên nó được gọi là BackRub (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang.
Page và Brin tin rằng những trang có nhiều liên kết đến nhất từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ (http://www.google.com). Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công ty Google, Inc. ngày 7 tháng 9 năm 1998 tại một ga ra của nhà Esther Wojcicki (cũng là nhân viên thứ 16 của Google, Phó Chủ tịch cấp cao, phụ trách bộ phận quảng cáo) tại Menlo Park, California. Trong tháng 2 năm 1999, trụ sở dọn đến Palo Alto, là thành phố có nhiều trụ sở công ty công nghệ khác. Sau khi đổi chỗ hai lần nữa vì công ty quá lớn, trụ sở nay được đặt tại Mountain View, California tại địa chỉ 1600 Amphitheater Parkway vào năm 2003.
Công cụ tìm kiếm Google được nhiều người ủng hộ và sử dụng vì nó có một cách trình bày gọn và đơn giản cũng như đem lại kết quả thích hợp và nâng cao. Trong năm2000, Google đã bắt đầu bán quảng cáo bằng từ khóa để đem lại kết quả thích hợp hơn cho người dùng. Những quảng cáo này chỉ dùng văn chứ không dùng hình để giữ chất đơn giản của trang và tránh sự lộn xộn và đồng thời để trang được hiển thị nhanh hơn.
Google nhận được bằng sáng chế cho kỹ thuật sắp xếp trang web PageRank ngày 4 tháng 9 năm 2001. Bằng đưa quyền cho Đại học Stanford và liệt kê Larry Page là người sáng chế.
Trong tháng 2 năm 2003 Google mua được Pyra Labs, công ty chủ của Blogger, một trong những website xuất bản weblog lớn nhất.
Đầu năm 2004, khi Google ở tột đỉnh, Google đã xử lý trên 80% số lượng tìm kiếm trên Internet qua website của họ và các website của khách hàng như Yahoo!, AOL, vàCNN. Sau khi Yahoo! bỏ Google để dùng kỹ thuật họ tự sáng chế vào tháng 2 năm 2004, số này đã bị tuột xuống.
Phương châm của Google là "Không làm ác" (Don't be evil). Biểu trưng của họ có khi được sửa đổi một cách dí dỏm vào dịp những ngày đặc biệt như ngày lễ hay sinh nhật của một nhân vật quan trọng. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt và một số ngôn ngữ dí dỏm như tiếng Klingontiếng Leet. Vào ngày Cá tháng tư (tiếng Pháp: poisson d'avril, tiếng Anh: April Fool's Day) Google thường tung ra nhiều tin hài hước về công ty.

Phát hành cổ phiếu lần đầu

Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan StanleyGoldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Giá thị trường của Google đến nay là trên 100 tỉ đô la.

3 sản phẩm nổi tiếng của google

1. Google search: Google nổi tiếng bởi dịch vụ Tìm kiếm của nó, nhân tố chính dẫn đến thành công của Google. Vào tháng 12 năm 2006, Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên mạng chiếm 50,8% thị phần, vượt xa so với Yahoo (23,6 %) và Window Live Search (8,4%). Google liên kết với hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và các toán tử. Google cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm Image Search (tìm kiếm ảnh), Google News, trang web so sánh giá cả Froogle, cộng đồng tương tác Google Groups, Google Maps và còn nhiều nữa.
2. Google mail: Gmail, hay còn gọi là Google MailĐứcAnh là một dịch vụ e-mail trên nền web và e-mail POP3 miễn phí do Googlecung cấp. Bản beta được đưa vào hoạt động vào ngày 1 tháng 4 năm 2004, với hình thức chỉ dành cho thư mời và được mở rộng thành bản beta cho tất cả mọi người vào tháng 2 năm 2007.
Gmail hỗ trợ POP3 và hơn 7.0 Gigabite không gian lưu trữ, một công cụ tìm kiếm và đàm thoại trực tuyến hay chat, và khả năng bảo mật tốt, cảnh báo virus. Gmail nổi tiếng với việc sử dụng công nghệ Ajax trong thiết kế.
Gmail hỗ trợ nhiều trình duyệt (browser) và hỗ trợ đa ngôn ngữ (multilanguages), địa chỉ người gửi đến và người gửi đi tự động nhập lưu vào sổ.
Năm 2005, Gmail là sản phẩm đứng thứ hai sau Mozilla Firefox trong 100 sản phẩm tốt nhất được tạp chí PC World bình chọn.

3.Hệ điều hành Android: Android là một hệ điều hành dựa trên nền tảng Linux được thiết kế dành cho các thiết bị di động có màn hình cảm ứng nhưđiện thoại thông minhmáy tính bảng. Ban đầu, Android được phát triển bởi Tổng công ty Android, với sự hỗ trợ tài chính từGoogle và sau này được chính Google mua lại vào năm 2005. Android ra mắt vào năm 2007 cùng với tuyên bố thành lậpLiên minh thiết bị cầm tay mở: một hiệp hội gồm các công ty phần cứng, phần mềm, và viễn thông với mục tiêu đẩy mạnh các tiêu chuẩn mở cho các thiết bị di động. Chiếc điện thoại đầu tiên chạy Android được bán vào tháng 10 năm 2008.
Android có mã nguồn mở và Google phát hành mã nguồn theo Giấy phép Apache. Chính mã nguồn mở cùng với một giấy phép không có nhiều ràng buộc đã cho phép các nhà phát triển thiết bị, mạng di động và các lập trình viên nhiệt huyết được điều chỉnh và phân phối Android một cách tự do. Ngoài ra, Android còn có một cộng đồng lập trình viên đông đảo chuyên viết các ứng dụng để mở rộng chức năng của thiết bị, bằng một loại ngôn ngữ lập trình Java có sửa đổi. Vào tháng 10 năm 2012, có khoảng 700.000 ứng dụng trên Android, và số lượt tải ứng dụng từ Google Play, cửa hàng ứng dụng chính của Android, ước tính khoảng 25 tỷ lượt.
Những yếu tố này đã giúp Android trở thành nền tảng điện thoại thông minh phổ biến nhất thế giới, vượt qua Symbian vào quý 4 năm 2010, và được các công ty công nghệ lựa chọn khi họ cần một hệ điều hành không nặng nề, có khả năng tinh chỉnh, và giá rẻ chạy trên các thiết bị công nghệ cao thay vì tạo dựng từ đầu. Kết quả là mặc dù được thiết kế để chạy trên điện thoại và máy tính bảng, Android đã xuất hiện trên TV, máy chơi game và các thiết bị điện tử khác. Bản chất mở của Android cũng khích lệ một đội ngũ đông đảo lập trình viên và những người đam mê sử dụng mã nguồn mở để tạo ra những dự án do cộng đồng quản lý. Những dự án này bổ sung các tính năng cao cấp cho những người dùng thích tìm tòi hoặc đưa Android vào các thiết bị ban đầu chạy hệ điều hành khác.
Android chiếm 75% thị phần điện thoại thông minh trên toàn thế giới vào thời điểm quý 3 năm 2012, với tổng cộng 500 triệu thiết bị đã được kích hoạt và 1,3 triệu lượt kích hoạt mỗi ngày. Sự thành công của hệ điều hành cũng khiến nó trở thành mục tiêu trong các vụ kiện liên quan đến bằng phát minh, góp mặt trong cái gọi là "cuộc chiến điện thoại thông minh" giữa các công ty công nghệ.

Nhận xét: Không gửi bài bằng gdoc nhé! Em dùng openoffice hoặc MS office

Tuesday, August 26, 2014

Cloud computing là gì - Bài tập tuần 1 - THDC_SIE_20141_Nguyễn Triệu Triết_20138806

-Cloud computing tiếng Việt có nghĩa là “Điện toán đám mây” hay còn được gọi là điện toán máy chủ ảo là mô hình điện toán sử dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào mạng internet.Thuật ngữ “đám mây” ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng internet ( dựa vào cách được bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một lien tưởng về sự phức tạp của các cơ sở hạ tầng chứa trong nó.Ở mô hình điện toán này,mọi khả năng liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng “dịch vụ”,cho phép người dùng các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó trong “đám mây” mà không cần phải có các kiến thức,kinh nghiệm về công nghệ đó,cũng như không cần quan tâm đến cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó

-Cloud computing là hình mẫu trong đó thông tin được lưu trữ thường trực trong các máy chủ trên internet và chỉ được lưu trữ tạm thời ở các máy khách ,bao gồm máy tính cá nhân máy tính doanh nghiệp hay các phương tiện máy tính cầm tay.

-Cloud computing là khái niệm bao gồm các khái niệm như phần mềm dịch vụ web 2.0 và các vấn đè khác xuất hiện gần đây ,các xu hướng công nghệ nổi bật,trong đó đề tài chủ yếu của nó là vấn đề dựa vào internet để đáp ứng những nhu cầu điện toán của người dùng.

-Thuật ngữ “cloud computing” xuất hiện từ năm 2007 để khái quát lại các hướng đi của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra.Các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm ,dịch vụ sẽ nằm lại các máy chủ ảo (đám mây) trên internet thay vì trên máy tính gia đình và văn phồng trên mặt đất để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.

*Ví dụ các công nghệ dựa trên cloud computing.
      1.Google App Engine:là công nghệ của hãng Google cung cấp cho người dùng những ứng dụng về kinh doanh có thể truy cập từ các trình duyệt web nhưng toàn bộ dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ.
     2.One Drive:là công nghệ của hãng Microsoft cung cấp cho người dùng tính năng chỉ với một tài khoản nhập với máy chủ sau khi tải dữ liệu lên đám mây người dùng có thể truy cập lại những dữ liệu đó từ một thiết bị khác có sử dụng tài khoản này.
     3.Icloud:là công nghệ của hãng Apple có tính năng gần giống với One Drive của Microsoft, dùng để lưu trữ dữ liệu và thông tin người dùng trên đám mây.


NOTE: THDC_SIE_20141_Nguyễn Triệu Triết_20138806

  • Tên thư mục bài tập tuần 1 đặt sai
  • Bài lầm nên >=3 trang và có hình minh họa

Những cải tiến cơ bản từ Windows 7 lên Windows 8 - BT tuần 1 - THDC_SIE_20141_LeMinhNguyen_20138317

Những cải tiến cơ bản từ Windows 7 lên Windows 8


Hệ điều hành mới của Microsoft bao gồm nhiều cái tiến cơ bản, ví dụ như thiết lập đa màn hình tốt hơn, Windows Explorer cải tiến mạnh mẽ, đồng bộ tài khoản dựa trên công nghệ điện toán đám mây và cách thức mới để cá nhân hóa máy tính của bạn.
Windows 8 có thể đồng bộ hóa những thiết lập cá nhân của bạn lên nhiều máy tính khác nhau, giúp bạn hạn chế tối đa những rắc rối có thể gặp phải trong việc tùy chỉnh môi trường Windows của bạn bằng cách thủ công trên nhiều máy tính khác nhau.
Bạn có thể đồng bộ theme và hình nền cho desktop, lock screen, account pictures, passwords, HomeGroup settingss, Modern UI app settings, browers history, favorites và nhiều tính năng khác nữa.
Đương nhiên là bạn phải có tài khoản của trên Microsoft để kết nối nhiều PC chạy Windows 8.

Mạng xã hội đã được tính hợp vào trong tính năng Modern UI của Windows 8 với khả năng chia sẻ các item giữa các ứng dụng Modern UI.

Bạn có thể sử dụng chức năng này để chia sẻ nhiều thứ hay ho như các đường link, hình ảnh với bạn bè của bạn thông qua Mail hoặc là bạn có thể post hình ảnh lên các mạng xã hội như Facebook, Linkedln và Twitter thông qua ứng dụng People.

Tính năng Sharing phải được tính hợp trong các ứng dụng của các nhà phát triển ứng dụng thứ 3, vì vậy Sharing có thể không hoạt động với tất cả các ứng dụng Modern UI
Trong Windows 8, Microsoft đã cải tiến chức năng thiết lập đa màn hình. Giao diện màn hình destop truyền thống hiện nay đã có thanh Taskbars và hình nền riêng biệt cho mỗi màn hình. Bạn có thể truy cập vào thanh Charms hay thanh Running Apps từ bất kì màn hình nào.

Khoảng không lưu trữ
Trong Windows 8, Microsoft cho phép bạn mở rộng khả năng lưu trữ bằng việc cho phép đồng hóa dữ liệu, thành một không gian duy nhất. Bạn có thể đồng hóa cả một ổ cứng di động, một USB trên hệ thống của bạn và Windows sẽ hiểu rằng: đó là một phần của ổ cứng máy tính.

Nếu USB của bạn tự nhiên ngắt kết nối, nó sẽ có thể gây ra lỗi cho hệ thống tập tin của bạn nếu như bạn đang truy cập tập tin đó để sao lưu hoặc lưu trữ trên 2 ổ đĩa khác nhau. Tuy nhiên, Microsoft đã tính tới vấn đề này và hệ thống RAID sẽ giải quyết vấn đề đó, RAID bảo vệ dữ liệu của bạn và đảm bảo rằng tập tin đó sẽ không bị lỗi.

Thời gian khởi động nhanh hơn
Theo như Microsoft thì Windows 8 có hệ thống khởi động lai. Hệ thống này cho phép cải thiện thời gian khởi động đáng kể so với Windows 7. Hệ thống khởi động lai mới kết hợp các quá trình trong khởi động lạnh (tạm dịch từ cold boot) và chế độ Hibernate.

ARM
Trước Windows 8, các máy tính cá nhân hầu hết dùng bộ xử lý x86. Nhưng nay, phiên bản Windows RT có thể chạy với bộ xử lý ARM. Microsoft dường như đang phá vỡ truyền thống lâu đời bằng việc ra mắt máy tính bảng Surface RT, với phần cứng do Microsoft phát triển. Chip ARM có lợi thế là tiêu thụ ít điện năng hơn x86, giúp kéo dài thời gian dùng pin Windows Store Phần quan trọng của Windows 8 chính là các ứng dụng theo phong cách Modern. Các ứng dụng này giúp làm nổi bật giao diện Modern UI cũng như tính năng cảm ứng của Windows 8. Bạn chỉ có thể mua các ứng dụng này qua Windows Store. 

Microsoft xây dựng kho ứng dụng nhằm khuyến khích phát triển các ứng dụng người dùng, bên cạnh đó là thúc đẩy doanh số cho các thiết bị Windows 8. Apple là một trong những hãng khá thành công với kho ứng dụng, tạo tiền đề cho việc thúc đẩy doanh số thiết bị iOS

Những cải tiến từ Windows 8 lên Windows 8.1

Windows 8.1 Update tập trung cải thiện trải nghiệm của người dùng máy tính với chuột và bàn phím truyền thống chứ không có nhiều điểm mới về mặt cảm ứng. Ở thanh tác vụ, khi bạn vừa cập nhật Windows 8.1 Update xong thì ứng dụng Windows Store sẽ được ghim ra đây, một động thái giúp người dùng desktop truyền thống dễ dàng khám phá kho ứng dụng của Microsoft. Và khi đang chạy các app theo phong cách Windows 8, bạn có thể di chuyển con trỏ chuột xuống cạnh dưới màn hình để thanh tác vụ hiện ra.

Bên cạnh đó, ở thanh tiêu đề của các app Modern giờ đây sẽ có thêm nút đóng, thu nhỏ và snap (giống app dạng cửa sổ bình thường), menu mới khi nhấn chuột phải vào các ô Live Tile (có tùy chọn đổi kích thước, unpin...). Khi thu nhỏ thì app này sẽ nằm trên thanh tác vụ của Windows 8.1 Update, tương tự như khi bạn thu nhỏ những phần mềm desktop bình thường.


Chưa hết, Microsoft bổ sung thêm một ô tile giúp mở nhanh trình cài đặt PC Settings. Hãng cũng cho phép hiển thị ứng dụng Modern trong thanh tác vụ khi chạy trong môi trường desktop và chúng ta vẫn xem được hình ảnh thu nhỏ của app.


Microsoft cho biết thêm rằng hãng đang làm việc với một số hãng sản xuất phần cứng để xác định xem những chiếc PC nào không được trang bị màn hình cảm ứng, hoặc có nhưng không phải là cách nhập liệu chính. Kế tiếp, Microsoft sẽ giúp các công ty phần cứng thiết lập mặc định chế độ boot thẳng vào giao diện desktop đối với những máy tính như thế. Những chiếc PC dùng màn hình cảm ứng hoặc tablet thì vẫn sẽ boot trực tiếp vào màn hình Start như Windows 8 từ trước tới nay.

Và nếu máy tính của bạn boot ngay vào desktop thì hình ảnh và các tập tin MP3 của bạn sẽ được mở trong phiên bản desktop của những ứng dụng tương ứng, thay vì phải chuyển sang chạy app Photos và Music của Windows 8. Nút shutdown và tìm kiếm cũng được mang ra ngay Start Screen để tiết kiệm thời gian cho người dùng. Lưu ý rằng nút shutdown này chỉ có mặt trên các PC truyền thống, còn nếu search sẽ hiện diện ở mọi thiết bị dùng Windows 8.1 Update.


Cải tiến cuối cùng liên quan đến hệ điều hành này nằm ở chỗ nó chỉ cần thiết bị với RAM 1GB và bộ nhớ trong 16GB là đã có thể chạy được. Nhờ điểm mới này mà chúng ta sẽ thấy nhiều hơn các PC và tablet giá rẻ chạy Windows trong thời gian tới. Microsoft cũng đã thực hiện nhiều thay đổi để giúp giảm kích thước bộ cài Windows 8.1 Update xuống thấp hơn 60% so với trước để giúp các hãng sản xuất thực hiện việc cài đặt Windows một cách nhanh chóng hơn.
  


Hướng dẫn tạo và chia sẻ thư mực bằng Google Drive

Bạn nào chưa biết làm thì làm theo các bước sau nhé!

1. Tạo thư mục "gốc" trên Google Drive



2. chia sẻ thư mục